|
|
 |
| Tiêu Điểm |
|
 |
|
|
|
Chữ ký thương mại điện tử
Chủ Nhật, 10.08.2008, 10:06am (GMT+7)
Chữ
ký điện tử gắn với một thông điệp dữ liệu giúp ta xác định được tác giả
của thông điệp dữ liệu đó và khẳng định sự chấp thuận của người ký đối
với nội dung của thông điệp dữ liệu.1. Một chữ ký điện tử cần có những điều kiện gì để được coi là an toàn?Chữ ký điện tử đó được kiểm chứng bằng một quy trình an toàn do các bên giao dịch thỏa thuận và đáp ứng được các điều kiện sau: • Dữ liệu cấu thành nên chữ ký điện tử chỉ gắn duy nhất với người ký khi dữ liệu đó được sủ dụng.• Dữ liệu tạo chữ ký điện tử chỉ thuộc sự kiểm soát của ngưòi ký tại thời điểm ký.• Mọi thay đổi đối với chữ ký điện tử sau thời điểm ký đều có thể bị phát hiện.• Mọi thay đổi đối với nội dung của thông điệp dữ liệu sau thời điểm ký đều có thể bị phát hiện. 2. Chữ ký số và chữ ký điện tử có gì khác nhau? Chữ
ký điện tử là dấu hiệu dưới dạng số hiệu, ký hiệu, chữ, số hay các hình
thức thông tin khác dưới dạng số hoá được gắn với bản tin điện tử nhằm
mục đích xác nhận người sở hữu bản tin đó. Còn chữ ký số là chữ ký điện
tử được tạo ra bằng sự biến đổi một bản tin điện tử sử dụng hệ thống
mật mã không đối xứng theo đó người có được bản tin điện tử ban đầu và
khoá công khai có thể xác định được chinh xác.Như
vậy, chữ ký số thực ra chỉ là một loại của chữ ký điện tử. Do nhu cầu,
tính phổ biến và mức độ an toàn cao nhất hiện nay của loại chữ ký này,
nên trong Nghị định điều chỉnh Luật Giao dịch điện tử do Bộ Bưu chính
Viễn thông chủ trì soạn thảo sẽ chỉ đề cập đến Chữ ký số và dịch vụ
chứng thực chữ ký số. 3.
Hợp đồng bằng giấy thường có chữ ký và dấu của các bên. Vậy hợp đồng
điện tử có bắt buộc phải có chữ ký điện tử không? Vai trò của con dấu
trong hợp đồng điện tử thể hiện như thế nào?Hợp
đồng điện tử không bắt buộc phải có chữ ký điện tử. Việc sử dụng chữ ký
điện tử hay sử dụng chữ ký điện tử được chứng thực phụ thuộc vào thoả
thuận giữa các bên tham gia hợp đồng. Tuy
nhiên, nhằm đảm bảo an toàn và tạo cơ sở pháp lý đầy đủ trong giải
quyết tranh chấp, việc sử dụng chữ ký điện tủ trong giao kết hợp đồng
luôn được khuyến khích.Luật
Giao dịch điện tử nêu rõ đối với các văn bản pháp luật quy định cần
đóng dấu như hợp đồng thì hợp đồng điện tử đó được xem là đáp ứng nếu
được ký bởi chữ ký điện tử đáp ứng đầy đủ các điều kiện về an toàn và
được chứng thực. Tuy nhiên, con dấu không chỉ mang ý nghĩa xác thực
tính pháp lý của chữ ký tay mà nó còn thể hiện được xuất xứ của chữ ký
tay đó. Do vậy, vấn đề đặt ra là nên ký chữ ký điện tử một lần hay hai
lần (1 chữ ký điện tử xác nhận người ký và chữ ký còn lại đảm nhiệm
chức năng của con dấu). Vấn đề này sẽ được trình bày rõ tại Nghị định
chữ ký số và chứng thực chữ ký số. 4. Một thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng bằng chứng từ điện tử có được công nhận giá trị pháp lý không? Trong
giao kết hợp đồng, mọi thông báo bằng chứng từ điện tử đều có giá trị
pháp lý như thông báo bằng phương pháp truyền thống. Song,
một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề nghị giao kết hợp đồng ma
không có bên nhận cụ thể thì chưa được coi là đề nghị giao kết hợp
đồng. Trong trường hợp, chủ thể thông báo có quy định rõ ràng trong
thông báo trách nhiệm của mình khi nhận được trả lời chấp thuận thì
thông báo đề nghị giao kết đó có giá trị. 5. Những hành vi vi phạm pháp luật về thương mại điện tử sẽ bị xử lý như thế nào?Hành
vi vi phạm pháp luật về thương mại điện tử được chia theo chủ thể gây
ra hành động: do cá nhân gây nên và do cơ quan, tổ chức gây nên. Cụ thể
như sau:•
Do cá nhân gây nên: tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà xử lý kỷ
luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong
trường hợp gây thiệt hại thì đó phải bồi thường theo quy định của pháp
luật.• Do
cơ quan, tổ chức: tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà xử phạt hành
chính, đình chỉ hoạt động. Trong trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi
thường theo quy định của pháp luật.6. Thế nào là một mật mã khoá công khai?Mật
mã khoá công khai hay còn gọi là mật mã khoá phi đối xứng, sử dụng một
cặp khoá bao gồm khoá công khai (public key) và khoá riêng (private
key). Trong đó khoá công khai để mã hoá, còn khoá riêng để giải mã. Trong
hệ mật này, mỗi người dùng có một cặp khoá liên kết với nhau: khoá công
khai dùng để mã hoá thì được công bố công khai như danh bạ điện thoại
và khoá riêng dùng để giải mã thì được giữ bí mật. Việc biết được một
trong hai khoá không thể suy ra khoá còn lại. Bất kỳ một người nào khác
đều có thể lấy khoá công khai của người nhận để mã hoá thông tin cần
gửi cho người nhận; chỉ suy nhất người nhận có khoá riêng tương ứng mới
giải mã được bản tin mật đó. Trong hệ mật này, không cần giữ khoá công
khai mà chỉ cần chắc chắn là người gửi thông tin đã sử dụng đúng khoá
của người nhận. 7. Tại sao nên sử dụng chữ ký số đã được chứng thực bởi các tổ chức chứng thực?Một
trong những yêu cầu quan trọng trong việc ứng dụng chữ ký điện tử là
viêc xác định được sự kết nối vật lý giữa người ký và chữ ký số. Bởi
một người bất kỳ có thể xưng danh giả mạo một người khác, tự tạo ra cặp
khoá và tự công bố khoá công khai. Vì vậy, để đảm bảo rằng khoá công
khai phải được lấy từ một cơ sở dữ liệu đáng tin cậy, đảm bảo đúng
người đó là chủ thể của khoá công khai và khoá công khai trên cơ sở dữ
liệu đó là cùng cặp với khoá riêng mà người đó đang giữ thì chúng ta
nên sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số. Đây cũng là nguyên nhân phải
có Cơ quan chứng thực (CA).Cơ quan CA có những hoạt động như sau: • Cấp, gia hạn, tạm đình chỉ, phục hồi và thu hồi chứng thư điện tử• Cung cấp thông tin cần thiết để giúp chứng thực chữ ký điện tử của người ký thông điệp dữ liệu• Cung cấp các dịch vụ khác liên quan đến chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật.8.
Doanh nghiệp tôi muốn thiết lập một website, trên đó cho các doanh
nghiệp khác thuê chỗ để quảng cáo, bán hàng. Vậy chúng tôi có phải làm
thủ tục xin phép không?Khi
doanh nghiệp muốn thiết lập một website, bạn phải làm các thủ tục xin
thiết lập website tại Bộ Văn hóa - Thông tin hoặc Sở Văn hoá - Thông
tin. Nếu bạn sử dụng tên miền quốc gia (.vn) thì cần phải đăng ký tên
miền với Trung tâm Thông tin Internet Việt Nam thuộc Bộ Bưu chính -
Viễn thông. Tuy nhiên, theo Luật Công nghệ thông tin ban hành tới đây,
các website có tên miền .vn hoạt động không cần xin giấy phép.Ngoài
ra, nội dung quảng cáo, bán hàng trên trang web đó hiện tại phải đáp
ứng các yêu cầu của Bộ Văn hoá - Thông tin và không trái pháp luật đối
với loại hình kinh doanh có điều kiện quy định tại Pháp lệnh Quảng cáo
ngày 16/11/2001.9.
Hải quan điện tử đã bắt đầu được triển khai tại Thành phố Hồ Chí Minh
và Hải Phòng từ năm 2005. Vậy, nội dung của thủ tục hải quan điện tử và
lộ trình triển khai của nó cụ thể ra sao?Việc
thực thi thủ tục hải quan là một trong những bước đi tất yếu nhằm đáp
ứng các yêu cầu về khối lượng công việc, về cải cách hành chính và quản
lý Nhà nước đồng thời đáp ứng các yêu cầu về hội nhập và thực hiện các
cam kết quốc tế. Hơn thế nữa, tính đến năm 2005, cơ sở pháp lý cho việc
triển khai hải quan điện tử đã được hoàn tất mà quan trọng hơn cả là sự
ra đời của Luật Giao dịch điện tử và Quyết định 149/2005/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt về lộ trình triển khai thủ tục hải quan điện
tử. Thủ tục hải quan điện tử gồm 4 nội dung chính như sau: •
Thủ tục hải quan điện tử được thực hiện bằng các phương tiện điện tử
thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan Hải quan• Hồ sơ hải quan điện tử đảm bảo sự toàn vẹn, không có khuôn dạng chuẩn và có giá trị pháp lý như hồ sơ hải quan giấy•
Thực hiện các quy định về việc người khai hải quan được tự nộp khai, tự
nộp thuế và các khoản thu khác (áp dụng nộp hàng tháng đối với lệ phí
làm thủ tục hải quan)•
Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan trên cơ sở hồ sơ hải quan
điện tử do doanh nghiệp gửi tới; quyết định thông quan dựa trên hồ sơ
điện tử do doanh nghiệp triển khai; quyết định việc kiểm tra hải quan
dựa trên kết quả phân tích thông tin từ cơ sở dữ liệu của hải quan và
các nguồn thông tin khácLộ trình triển khai thủ tục hải quan bao gồm các giai đoạn sau:1. Giai đoạn I (năm 2005): - Tổ chức thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng2. Giai đoạn II (01/01/2006 đến 30/08/2006)- Sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm giai đoạn I-
Lựa chọn thêm một số Cục hải quan tỉnh, thành phố có đủ điều kiện để
thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử: Đồng Nai, Bình Dương, Vũng
Tàu, Đà Nẵng, Hà Nội, Quảng Ninh3. Giai đoạn III (09/2006 đến 02/2007)- Tổng kết, đánh giá, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện thí điểm-
Mở rộng số các đơn vị hải quan và số lượng doanh nghiệp thực hiện thủ
tục hải quan điện tử đồng thời mở rộng phạm vi áp dụng đối với các hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩuMột
điều quan trọng là các giai đoạn và công tác triển khai thủ tục hải
quan điện tử phải hoà nhập với dự án của Ngân hàng Thế giới về cải cách
hiện đại hoá hải quan10. Bên cạnh hải quan điện tử, Bộ Tài chính còn có kế hoạch nào triển khai nhằm hiện đại hoá ngành Thuế?Quyết
định số 201/2004/QĐ-TTG ngày 6/12/2004 của Thủ tướng chính phủ cũng đã
phê duyệt các chương trình cải cách ngành Thuế đến năm 2010, trong đó
có chương trình xây dựng và triển khai hệ thống dịch vụ thuế điện tử
(e-tax). Hệ thống thuế điện tử sẽ cung cấp toàn bộ các dịch vụ điện tử
cho đối tượng nộp thuế bao gồm các giao dịch giữa cơ quan thuế - người
nộp thuế, cơ quan thuế - cơ quan thuế, cơ quan thuế - cơ quan khác và
giữa các tổ chức cá nhân.Dự kiến lộ trình triển khai gồm 4 giai đoạn như sau:• Giai đoạn 1 (2007-2008): Đăng ký thuế điện tử• Giai đoạn 2 (2008-2009): Kê khai thuế điện tử• Giai đoạn 3 (2009-2010): Cung cấp dịch vụ qua mạng• Giai đoạn 4 (từ 2010): Nộp thuế điện tử và nối mạng với các cơ quan liên quanThuế điện tử được coi là nỗ lực lớn nhằm hướng tới một Chính phủ điện tử (E-government) tới năm 2010.11. Chứng từ điện tử có phải là thông điệp dữ liệu không? Sự khác nhau giữa chứng từ điện tử và thông điệp dữ liệu là gì?Chứng
từ điện tử là các chứng từ (hợp đồng, đề nghị, thông báo, chào hàng
hoặc tài liệu khác liên quan đến việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng)
ở dạng thông điệp dữ liệu. Vậy về mặt bản chất, chứng từ điện tử chính
là thông điệp dữ liệu, tức là những thông tin được tạo ra, được gửi đi,
được nhận hoặc được lưu trữ bằng phương tiện điện tử. Tuy
nhiên, không phải mọi thông điệp dữ liệu đều là chứng từ điện tử. Chỉ
khi thông điệp dữ liệu được tạo ra và trao đổi giữa các bên trong quá
trình giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, thì thông điệp dữ liệu đó mới
là chứng từ điện tử và thuộc diện điều chỉnh của Nghị định về Thương
mại điện tử.12. Các vấn đề liên quan đến hợp đồng điện tử (hợp đồng được giao kết qua mạng) được quy định như thế nào?Liên quan đến hợp đồng điện tử, Nghị định về thương mại điện tử được áp dụng để điều chỉnh một số vấn đề sau:- Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử (Điều 7-9):o Hợp đồng không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì là hợp đồng điện tử.o
Hợp đồng điện tử có giá trị pháp lý như hợp đồng ở dạng văn bản nếu
thông tin chứa trong hợp đồng có thể truy cập được để sử dụng khi cần
thiết.o
Hợp đồng điện tử có giá trị pháp lý như bản gốc nếu thoả mãn đồng thời
cả hai điều kiện sau: 1) Có sự đảm bảo đủ tin cậy về tính toàn vẹn của
thông tin chứa trong hợp đồng điện tử từ khi thông tin được tạo ra ở
dạng cuối cùng là hợp đồng điện tử hay dạng khác. 2) Thông tin chứa
trong hợp đồng điện tử có thể hiển thị được khi cần thiết. -
Ký hợp đồng điện tử (Điều 10): Hợp đồng điện tử được coi là có chữ ký
của một bên nếu đã sử dụng một phương pháp đủ tin cậy để xác định bên
đó và chỉ ra sự chấp thuận của bên đó đối với thông tin chứa trong
chứng từ điện tử. -
Thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 12): Những thông báo, chào
hàng hay chứng từ điện tử khác có nội dung của một đề nghị giao kết hợp
đồng nhưng không có bên nhận cụ thể thì chưa được coi là đề nghị giao
kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ tại thông báo đó trách nhiệm
của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận.-
Cung cấp các điều khoản của hợp đồng (Điều 14): Trong trường hợp thông
qua các hệ thống thông tin, bên A đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và
bên B có thể tiếp cận được đề nghị đó thì trong khoảng thời gian hợp lý
bên A phải cung cấp cho bên được đề nghị các chứng từ điện tử hoặc
chứng từ liên quan khác chứa những nội dung của hợp đồng. Các chứng từ
này phải thỏa mãn điều kiện lưu trữ và sử dụng được.13. Vấn đề địa điểm kinh doanh trong thương mại điện tử có gì cần lưu ý so với thương mại truyền thống?Luật
Thương mại, Điều 54 khoản 1 quy định: "Địa điểm kinh doanh của bên bán
được xác định vào thời điểm giao kết hợp đồng, nếu không có địa điểm
kinh doanh thì tại nơi cư trú của bên bán".Nghị
định về Thương mại điện tử quy định chi tiết hơn, theo đó địa điểm kinh
doanh là cơ sở cố định để tiến hành hoạt động kinh doanh, không bao gồm
cơ sở cung cấp tạm thời hàng hóa hay dịch vụ. Trong trường hợp một bên
có nhiều địa điểm kinh doanh thì địa điểm kinh doanh là địa điểm do bên
đó chỉ ra, trừ khi bên khác nêu rõ địa điểm kinh doanh này không có.
Hoặc nếu bên đó không chỉ ra thì địa điểm kinh doanh là địa điểm có mối
quan hệ mật thiết nhất với hợp đồng liên quan.Trong thương mại điện tử, khi xác định địa điểm kinh doanh cần đặc biệt lưu ý hai vấn đề sau:•
Nơi đặt máy móc, thiết bị công nghệ của hệ thống thông tin do một bên
sử dụng để giao kết hợp đồng, trong trường hợp khác với cơ sở cố định
để tiến hành hoạt động kinh doanh của bên đó mà có quan hệ mật thiết
nhất với hợp đồng liên quan, không được coi là địa điểm kinh doanh gắn
với giao dịch thương mại điện tử này. Ví dụ Công ty A tại Quảng Ninh có
website và hộp thư điện tử đặt tại máy chủ Công ty B ở Hà Nội, thì Hà
Nội không được coi là địa điểm kinh doanh của Công ty A.•
Địa danh gắn với tên miền hay địa chỉ thư điện tử của một bên không
nhất thiết chỉ ra nơi bên đó có địa điểm kinh doanh. VD: bên A tiến
hành giao dịch từ một hộp thư điện tử với địa chỉ là têncôngty@hcm.vnn.vn thì chưa đủ cơ sở để suy ra rằng bên A có địa điểm kinh doanh tại Thành phố Hồ Chí Minh.14.
Nếu người tiêu dùng vào website của doanh nghiệp đặt mua hàng, mắc phải
lỗi vô ý (ví dụ định mua 1 hộp bánh, nhưng chẳng may nhập là 10 hộp và
đã gửi thông tin đi) thì người tiêu dùng có được rút bỏ đơn hàng đó
không, có phải chịu trách nhiệm gì về hậu quả xảy ra không?Có 2 trường hợp có thể xảy ra:Trường
hợp 1: Website doanh nghiệp đã tạo cơ hội cho người tiêu dùng sửa lỗi,
ví dụ: sau khi người mua chọn mặt hàng và nhập số lượng, sẽ xuất hiện
một trang web nêu lại toàn bộ các chi tiết của giao dịch, từ số lượng,
đơn giá cho đến tổng giá trị giao dịch và yêu cầu người mua xác nhận,
đồng thời nói rõ nếu người mua đã soát lại toàn bộ các chi tiết và bấm
nút xác nhận. Hoặc sau khi người mua bấm nút gửi đơn hàng đi, website
bán hàng tự động gửi lại một thư điện tử đề nghị khách hàng kiểm tra
các thông tin liên quan và gửi thư xác nhận. Trong trường hợp này,
người tiêu dùng không được rút bỏ đơn hàng và phải chịu trách nhiệm với
toàn bộ các chi tiết đã được xác nhận của hợp đồng.Trường
hợp 2: Website doanh nghiệp không tạo cơ hội cho người tiêu dùng sửa
lỗi như trên. Trong trường hợp này, người mua được quyền rút bỏ phần
đơn hàng bị lỗi nhập thông tin nếu tuân thủ hai điều kiện sau:• Ngay khi biết có lỗi, người mua hoặc đại diện của người mua thông báo cho người quản lý website về lỗi đã mắc.• Người mua vẫn chưa sử dụng hoặc có được bất kỳ lợi ích vật chất hay giá trị nào từ hàng hóa hay dịch vụ nhận được.Tuy
nhiên, người mua vẫn phải chịu trách nhiệm với phần đơn hàng còn lại và
phải chịu hậu quả các lỗi phát sinh theo quy định của pháp luật (nếu
có). Ví dụ: ở trường hợp này, khi nhận được 10 hộp bánh (do nhập sai số
lượng hộp), người tiêu dùng không được hủy toàn bộ đơn hàng (không được
rút lại phần đơn hàng về ý định mua bánh), mà chỉ được rút lại phần đơn
hàng về số lượng. Người tiêu dùng sẽ nhận và thanh toán cho 1 hộp bánh,
trả lại nguyên vẹn 9 hộp bánh. Nếu có phát sinh thêm chi phí vận chuyển
cho 9 hộp bánh này thì người tiêu dùng sẽ phải thanh toán.15.
Thông tin do các hệ thống máy tính tự động phát ra, không có sự can
thiệp của con người có được coi là có giá trị pháp lý không?Theo
Điều 13 Nghị định về thương mại điện tử, hợp đồng được giao kết từ sự
tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động và một cá nhân, hoặc giữa
các hệ thống thông tin tự động với nhau, không bị phủ nhận giá trị pháp
lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng
hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện.Tuy
nhiên, thông tin do các hệ thống máy tính tự động phát ra mà không có
sự can thiệp của con người sẽ có giá trị pháp lý như thế nào thì còn
tùy vào quy định cụ thể của pháp luật và thoả thuận của các bên trong
từng trường hợp cụ thể.16. Thời điểm gửi và nhận chứng từ điện tử được xác định như thế nào?Trong
thương mại truyền thống, việc trao đổi các giấy tờ, chứng từ giao dịch
thương mại (hợp đồng, báo giá, chào hàng, đặt hàng, v.v...) thường được
thực hiện qua đường bưu phẩm hoặc trao tay. Việc xác định thời điểm gửi
và nhận các giấy tờ, chứng từ này khá đơn giản, ví dụ căn cứ trên dấu
bưu điện.Bản
chất của thương mại điện tử là việc truyền gửi (trao đổi) các chứng từ
thương mại bằng phương tiện điện tử. Việc xác định chính xác thời điểm
gửi và nhận chứng từ trong môi trường điện tử qua các phương tiện như
Internet, email, website, máy tính… phức tạp hơn so với môi trường giấy
tờ. Bên mua và bên bán có thể lấy lý do chưa nhận được hoặc đã gửi
chứng từ điện tử để chối bỏ nghĩa vụ, gây thiệt hại cho bên đối tác.
Chính vì vậy, căn cứ để xác định thời điểm gửi và nhận chứng từ điện tử
có ý nghĩa rất quan trọng.Hệ
thống thông tin là hệ thống được tạo lập để gửi, nhận, lưu trữ, hiển
thị hoặc thực hiện các xử lý khác đối với chứng từ điện tử. Như vậy, hệ
thống thông tin có thể đơn giản là máy tính của các bên, website giao
dịch, hệ thống tin học nội bộ, v.v... Thời
điểm gửi một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ đó rời khỏi hệ
thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo (hay đại diện của
người khởi tạo). Ví dụ: cán bộ Công ty A bấm nút “Gửi” một email chứa
hợp đồng cho cán bộ Công ty B. Email này còn nằm ở hộp thư trên máy
tính của cán bộ Công ty A cho đến khi máy tính này kết nối vào Internet
và email đó rời khỏi máy tính. Như vậy, thời điểm gửi hợp đồng sẽ được
coi là thời điểm email rời khỏi máy tính của cán bộ Công ty A.Tuy
nhiên, sau khi bấm nút “Gửi”, email này sẽ được truyền qua hệ thống
thông tin của Công ty A, rồi tới máy chủ của nhà cung cấp dịch vụ
Internet/email, sau đó mới tới hệ thống thông tin của Công ty B. Nếu có
bất kỳ trục trặc gì phát sinh tại máy chủ của nhà cung cấp dịch vụ,
Công ty A hoàn toàn không kiểm soát được. Như vậy, thời điểm gửi hợp
đồng trong trường hợp này, sẽ được coi là lúc cán bộ của Công ty B nhận
được email. Thời
điểm nhận một chứng từ điện tử là thời điểm người nhận có thể truy cập
được chứng từ đó tại một địa chỉ điện tử do người nhận chỉ ra. Ví dụ:
Công ty B yêu cầu hợp đồng phải được gửi tới địa chỉ email congtyB@fpt.vn.
Thời điểm Công ty B nhận được hợp đồng được xác định là lúc cán bộ Công
ty B truy cập vào địa chỉ email này và tiếp cận được hợp đồng do Công
ty A gửi.Nếu
Công ty A gửi hợp đồng vào một địa chỉ khác với địa chỉ được yêu cầu
thì thời điểm nhận được xác định là lúc cán bộ của Công ty B truy cập
được hợp đồng đó tại địa chỉ này. Tất nhiên, Công ty A phải có một hình
thức thông báo thích hợp cho Công ty B biết về sự thay đổi địa chỉ gửi
này. 17. Địa điểm gửi và nhận chứng từ điện tử được xác định như thế nào?Trong
môi trường điện tử, khái niệm về địa lý, địa chỉ rất khó xác định. Ta
có thể truy cập vào một website, một địa chỉ email từ bất kỳ đâu: ở
nhà, ở cơ quan hay ở bất kỳ đâu miễn có kết nối Internet. Như vậy, việc
xác định địa điểm gửi và nhận chứng từ điện tử cũng rất quan trọng và
phải được quy định rõ.Địa
điểm gửi chứng từ điện tử được coi là tại địa điểm kinh doanh của người
khởi tạo chứng từ đó. Địa điểm nhận chứng từ điện tử được coi là tại
địa điểm kinh doanh của người nhận.18. Căn cứ vào đâu để một thông điệp dữ liệu được coi là tương đương về mặt pháp lý với văn bản giấy?Có
thể nói, để ứng dụng thương mại điện tử như thương mại truyền thống thì
việc thừa nhận tính pháp lý của thông điệp dữ liệu có giá trị tương
đương như văn bản trên giấy tờ là vấn đề cốt lõi. Đây là nội dung quan
trọng nhất và là quy định nền tảng của thương mại điện tử.Tương
tự như văn bản trên giấy tờ truyền thống, thông điệp dữ liệu trước hết
được khẳng định có đầy đủ giá trị pháp lý. Một thông điệp dữ liệu có đủ
tính chất như văn bản giấy thể hiện trên các khía cạnh sau:- Có thể đọc được, sử dụng được thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu bất cứ khi nào cần.-
Có thể xác định được tính toàn vẹn (không bị thay đổi) của thông tin
chứa trong thông điệp dữ liệu. Trong môi trường giấy tờ, chúng ta
thường hay gọi là bản gốc để chỉ ra rằng đâu là văn bản được tạo ra lần
đầu và nội dung không bị thay đổi. -
Có khả năng chỉ ra sự chấp thuận của người đã tạo ra thông điệp dữ liệu
và sự chấp nhận nội dung thông tin trong thông điệp dữ liệu của người
đó. Điều này tương đương với việc ký bằng tay, đóng dấu vào văn bản
giấy truyền thống. Đối với thông điệp dữ liệu là việc sử dụng chữ ký
điện tử.Theo TMĐT
Theo TMDT
|
|
|
|